My Study Stuff

27/05/2014

Lòng Dặn Lòng – “Tin Thì Tiêu”

Filed under: Extra — anlactunay @ 5:08 PM

Đừng vội TIN những điều người ta HÓT
Phân tích kỹ luận cứ người ta nêu
Dữ kiện dẫu được nêu thật nhiều
Nhưng cũng bị phần nào lệch lạc*
Lý luận tưởng chừng thật cao siêu
Khốn một nỗi: tràn trề ngụy biện**
Giải đoán*** lại chỉ hướng một chiều
Và bắt nguồn từ niềm riêng cảm nhận****.
Vậy: TIN thì TIÊU ạ!

*lệch lạc (bias <==> http://ahdictionary.com/word/search.html?q=bias AND http://www.sciencedaily.com/articles/a/anchoring.htm)
**ngụy biện (fallacies <==> http://ahdictionary.com/word/search.html?q=fallacy)
***giải đoán (interpretation <==> http://ahdictionary.com/word/search.html?q=interpretation)
****cảm nhận (perceptions == http://ahdictionary.com/word/search.html?q=perception)

Tính khách quan và tính chủ quan trong một lời phát biểu (hoặc một nhận định) có thể là một khái niệm không lạ gì với nhiều người. Người ta thường cho rằng mọi Phát biểu (hoặc nhận định) khách quan đều xác thực, nhưng ít khi người ta chú ý đến các tiêu chuẩn cần có để phân biệt thế nào là khách quan hay chủ quan. Sau đây, một số tiêu chuẩn đó sẽ được bàn, vì chúng thường được dùng để xác định hai khái niệm khách quan và tính chủ quan. Một số thiếu sót của những phát biểu (hoặc nhận định) dù là khách quan cũng được bàn để cho thấy rằng: Phát biểu (hoặc nhận định) khách quan tuy cần nhưng vẫn chưa đủ.

Bàn về Phát biểu (hoặc nhận định) khách quan
Mượn công thức IRAC (Issue – Rules/Resources – Analysis – Conclusion) của phương pháp suy luận trong ngành luật, người ta có thể thấy những điểm IRAC sau đây.
Một Phát biểu (hoặc nhận định) khách quan như:

bird_in_cage
“Con chim ở trong lồng.” (trong Hương Tình Muộn – Thơ của Hương Thảo), sẽ nêu lên vấn đề đạt hay không đạt các tiêu chuẩn thường được quy định.
3 tiêu chuẩn đó là:
1. Phát biểu (hoặc nhận định) khách quan phải có “Định giá trị về Sự thật”.
2. Có một sự thỏa thuận về phương pháp để xác định xem lời Phát biểu (hoặc nhận định) ấy là đúng hay sai.
3. Nếu có sự bất đồng về tính chất thật hay không thật của Phát biểu (hoặc nhận định) ấy, tất có một người đã Phát biểu (hoặc nhận định) sai!

“Định giá trị về Sự thật” là gì?
“Định giá trị về Sự thật” có nghĩa là có đặt vấn đề lời Phát biểu (hoặc nhận định) đúng hoặc sai. Nói khác đi: Nếu chúng ta nói rằng một lời Phát biểu (hoặc nhận định) đó có “Định giá trị về Sự thật”, chúng ta chỉ rõ ràng là lời Phát biểu (hoặc nhận định) ấy có khả năng đúng, hoặc có khả năng sai.

Phân tích Tiêu chuẩn 1 ta thấy: Phát biểu (hoặc nhận định) khách quan phải có “Định giá trị về Sự thật”

Nếu xét lại: Phát biểu (hoặc nhận định) như “Con chim ở trong lồng.” (trong Hương Tình Muộn – Thơ của Hương Thảo) có một “Định giá trị về Sự thật” không?
Câu trả lời sẽ là:
— Có!
Đó là vì: Phát biểu (hoặc nhận định) này đã nêu một sự việc THẬT (đó là con chim đang ở trong lồng), hoặc đã nêu một sự việc KHÔNG THẬT (con chim đang ở ngoài trời).

Phân tích Tiêu chuẩn 2 ta thấy: Cần có sự thỏa thuận về phương pháp để “Định giá trị về Sự thật”.
Nhưng thử xem: Chúng ta có thể đồng ý về một cách để xác định xem con chim này có đang thật sự ở trong lồng hay chăng?
Câu trả lời là:
— Chắc chắn là chúng ta có thể đồng ý về một cách để xác định!
Thật vậy, chúng ta có thể đồng ý với một cách như sau:
1. trước tiên, chúng ta sẽ xác định rằng đây là một con chim, và đây là một cái lồng chim;
2. tiếp theo, chúng ta sẽ xác định rằng con chim này này có thật sự đang ở trong lồng hay chăng.
Làm thế nào chúng ta có thể làm điều thứ hai này?
— Dễ thôi: Bằng cách chụp một hình hay video của chính con chim này đang ở trong lồng này.

Phân tích Tiêu chuẩn 3: Trong trường hợp bất đồng về “Định giá trị về Sự thật”, tất phải có một người phát biểu (hoặc nhận định) sai.
Rõ ràng là: con chim theo hình minh họa đang ở trong lồng, chứ không bay ngoài trời.

Vậy thì: Phát biểu (hoặc nhận định) khách quan giúp xác định phần nào sự thật về một hiện tình – như “con chim trong lồng.”

Bàn về Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan
Một Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan như:
“Con chim buồn không hót.” (trong Hương Tình Muộn – Thơ của Hương Thảo), sẽ nêu lên vấn đề đạt hay không đạt các tiêu chuẩn thường được quy định đã nêu trên, vốn dành cho Phát biểu (hoặc nhận định) khách quan.

Thật vậy, khi phân tích ta sẽ thấy rằng:
1. Lời Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan thường không chú trọng việc “Định giá trị về Sự thật”.
Câu “Con chim buồn không hót.” (trong Hương Tình Muộn – Thơ của Hương Thảo) này có hàm chứa một “Định giá trị về Sự thật” không?
Câu trả lời là:
— Không.
Lý do là vì Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan bắt nguồn từ các cảm nhận hoặc sở thích của từng người. Ai ai cũng có thể đồng ý hay không đồng ý với Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan này.

2. Thường không có một sự thỏa thuận về phương pháp để xác định xem lời Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan là đúng hay sai; tức là không có thỏa thuận về phương pháp để xác định sự thật. Lý do cũng là: Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan bắt nguồn từ cảm nhận hoặc sở thích của từng người.
• Làm thế nào chúng ta sẽ xác định là “Con chim buồn không hót.”?
• Những phương pháp nào chúng ta phải sử dụng?
• Có nên hoặc có thể bỏ phiếu để xác định sự việc này chăng? Câu trả lời là: — Không! Bởi vì bỏ phiếu cũng chỉ cho chúng ta biết có bao nhiêu người “cùng thị hiếu tương tự.”

3. Những người đã Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan có thể không đồng ý với nhau; nhưng có thể không ai sai lầm cả. Bạn có thể đồng ý (hoặc không tán đồng) với một Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan, nhưng điều đó vẫn không làm bạn bị chê là sai lầm, và cũng không làm cho lời Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan ấy trở thành khách quan.

Vậy rõ ràng là Phát biểu (hoặc nhận định) chủ quan giúp xác định phần nào sự thật về một hiện tình – như “con chim trong lồng.” Đang buồn…
Và càng khách quan trong Phát biểu (hoặc nhận định), càng dễ phân biệt THẬT hay HƯ.

Những mặt hạn chế trong các Phát biểu (hoặc nhận định)
Phát biểu (hoặc nhận định) dù khách quan cũng có khi phạm sai lầm trong việc phân biệt THẬT với HƯ. Những sai lầm nay thường bắt nguồn từ việc không dùng đúng cách thức suy luận (reasoning), hoặc do các ngụy suy (fallacies) đã dùng trong lúc suy luận. Có cả hàng trăm thứ ngụy suy; nhưng chỉ có 2 cách suy luận chính là: Diễn dịch (Deduction) và Quy nạp (Induction).

Sau đây là một ví dụ thường được nêu lên về Diễn dịch:
Mọi người đều có lúc phải chết.
Socrate là người.
Vậy (kết luận) Socrate cũng phải chết thôi!

Diễn dịch như trên đây, sẽ nêu lên vấn đề là cái kết luận có “có lý” (sound) hay không.
Muốn “có lý” (sound), một Diễn dịch phải gồm: lập luận qua diễn dịch hợp lý (valid) dựa trên một hay nhiều tiền đề xác thực (true premises). Lập luận theo lối diễn dịch sẽ không hợp lý nếu tiền đề xác thực nhưng kết luận lại không xác thực, hay ngược lại tiền đề sai trong khi kết luận lại đúng.
Chỉ khi nào kết luận đúng cách như trên thì diễn dịch mới có thể bảo đảm sự thật.

Một Quy nạp bằng cách suy rộng có thể dễ thấy trong một ví dụ đơn giản như sau:
Tại cửa hàng ABC,
Con chim trong lồng 1 màu trắng
Con chim trong lồng 2 màu trắng
Con chim trong lồng 3 màu trắng
Con chim trong lồng 4 màu trắng
Vậy (kết luận) cửa hàng ABC chỉ bán chim màu trắng.

Rõ ràng là kết luận này chỉ có mức độ “tin được” rất hạn chế; vì có thể còn nhiều chim màu khác trong kho của cửa hàng ABC này chưa được xem đến trước khi kết luận.

Quy nạp bằng cách suy rộng như trên đây, sẽ nêu lên vấn đề là cái kết luận có thể “tin được” hay không.
Nhưng theo luận lý học, tiêu chuẩn “tin được” (cogent) phải là lập luận qua quy nạp mạnh (strong) từ một hay nhiều tiền đề xác thực. Lý do làm người ta chỉ gọi là “tin được” là: kết luận qua quy nạp (đi từ một số sự kiện riêng lẻ để đi đến kết luận chung) chỉ cho ước định xác suất chứ không bảo đảm sự thật như kết luận do Diễn dịch.
Hơn nửa, phép quy nạp cũng sẽ giảm mức độ “tin được” nếu cách quy nạp không mạnh tức là bắt nguồn từ một số hạn chế của tiền đề, hoặc từ tiền đề không xác thực.

Như vậy, kết luận qua phương pháp diễn dịch gần sự thật nhiều hơn kết luận qua phương pháp quy nạp.

Bàn về Ngụy suy (fallacies)

Tuy nhiên, dù đã dùng phương pháp suy luận bằng Diễn dịch hay Quy nạp, một số không ít nguỵ suy (fallacies) cũng cần được chú ý ngõ hầu lập luận được đúng cách và khả tín.
Ngụy suy (fallacies) — còn được gọi là ngụy biện, xảo biện, xảo ngôn, xảo ngữ… — có thể xem như gồm những xảo thuật để ngụy biện nhằm thay đổi cảm quan và tư tưởng nhằm làm lệch lạc việc giải thích của não bộ của đối tượng; đối tượng có thể là người khác mà cũng có thể của riêng người đang sử dụng xảo ngữ. Như vậy, ngụy suy không những có thể đóng một vai trò đáng kể trong tiến trình nhận thức; ngụy suy còn có thể gieo niềm tin (hay mê tín hay ảo vọng), gây ngộ nhận và ảo tưởng, thay đổi cung cách đối xử và hành động trong đời sồng hằng ngày của người đời; thay đổi theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, tùy theo ý đồ của người dùng ngụy suy. Có hơn cả trăm loại ngụy suy; xin xem bài “Ngụy suy”. Sau đây, bài này chỉ bàn về ba loại nguỵ suy thường mắc phải và một loại ngụy suy rất đặc biệt đáng kể.

Loại ngụy suy rất đặc biệt mang tên là “Ngụy suy-ngụy suy” (Fallacy-fallacy), Ví dụ:
Trò nói:
“Tôi có phân số 16/64.
Bây giờ tôi chỉ cần xóa bỏ số 6 ở số 16; và xóa bỏ số 6 ở mẫu số 64.
Tôi có thể kết luận rằng 16/64 = 1/4.”

Thầy phán: “Cách trò giải như vậy là không hợp lý!”

Trò thưa: “Nhưng thưa thầy: vẫn đúng là 16/64 == 1/4 ấy mà!”

Thầy đành phải công nhận kết luận trên (16/64 == 1/4) là một sự thật dù rằng cách suy luận không hợp với LOGIC!
Ông thầy sẽ vi phạm cái “nguy suy-ngụy suy” nếu ông ta phủ nhận cái kết luận (16/64 == 1/4) của trò, chỉ vì lý do: Trò đã lập luận không đúng “bài bản” của luận lý học.

Ngoài ra, còn 3 nhóm “Ngụy suy” (Fallacies) thường gặp là:
1. Ngụy suy bằng cách kêu gọi lý trí
2. Ngụy suy bằng cách khêu gợi cảm nhận
3. Ngụy suy bằng cách lý luận nghịch lý – phản lại Luận lý học, nôm na là “nói ngang”, “cãi chày”, “cãi cối”…

Trong nhóm Ngụy suy bằng cách kêu gọi lý trí, ngụy suy thường gặp nhất là:
Lối khêu gợi lý trí bằng cách nêu thẩm quyền khuyết danh. Trong lối lý luận này, thẩm quyền nêu ra không hề được xác định rõ ràng (Appeal to ANONYMOUS AUTHORITY).
Ví dụ:
(a) Dùng ngụy suy, người ta bảo: “Một số chuyên gia (không nêu tên) hay một cuộc nghiên cứu (không rõ xuất xứ) cho rằng: ‘Phải mất 7 năm mới tiêu hóa kẹo cao su nuốt vào cơ thể người ta.’”
(b) Một quảng cáo cho rằng: “Dược phẩm X đã được nhiều công trình nghiên cứu cho rằng trị tận gốc bệnh Tiểu đường”.
Nhưng các công trình nghiên cứu không được nêu tên người làm, và làm như thế nào, tại đâu, lúc nào?
Vô tình hay cố ý, người ta đã không nêu rõ thêm về giá trị đích thật của các chuyên gia hay tổ chức nghiên cứu liên hệ. Họ có đủ tính cách pháp lý và vô tư không? Cơ cấu và tiến trình nghiên cứu có hợp tiêu chuẩn khoa học không? Nghiên cứu có được làm trên một mẫu (sample) đủ lớn để có giá trị đại diện cho tổng thể hay chỉ được thực hiện trên một nhóm người hoặc trên một đôi người? Nghiên cứu có giá trị trên toàn cầu và còn hợp thời hay chỉ có tính cách địa phương và đã lỗi thời rồi? Tất cả những câu hỏi căn bản này thường không được loại ngụy suy này đề cập.

Trong nhóm Ngụy suy bằng cách khêu gợi cảm nhận, người ta sẽ khó quên: Các lối khêu gợi cảm nhận bằng gồm những cách tạo cảm giác giả tạo như:

(a) như “TIN thì TIÊU” trong đề bài viết này có thể xem như là một ví dụ của hai loại ngụy suy “hù dọa” (Appeal to FEAR) hay “nêu vấn nạn không thật” (False Dilemma); hoặc

(b) đe dọa lên hậu quả của niềm tin (Appeal to CONSEQUENCES of a Belief). Cách này nhằm làm cho người nghe không tin một “người thật, việc thật” bằng cách làm cho họ sợ rằng việc chấp nhận sự thật sẽ làm tan biến một niềm tin sẵn có của họ. Vì niềm tin sẵn có, nên có người tránh né sự thật phũ phàng và dễ dàng chấp nhận lối ngụy suy này.
Ví dụ: Ông X — luôn luôn đặt trọn niềm tin vào lảnh tụ của mình — sẽ khăng khăng phủ nhận một cuộn băng video thâu hình bất lợi cho vị ‘thần tượng’ mà ông X đã ái mộ, vì ông X cho rằng nhân vật đó không thể làm chuyện sai trái bao giờ.

Trong nhóm Ngụy suy bằng cách lý luận nghịch lý, người sẽ nhớ hoài cái lối Ngụy suy bằng cách Đả kích cá nhân (AD HOMINEM) — thay vì tìm rõ sự thật. Đây là một “ngụy suy” hay “xảo ngữ” rất thường gặp.
Ví dụ: Ông X nêu lên một điểm về đạo đức: “Dạy cho con ăn nói thật thà…” (Nhạc của Trịnh Công Sơn)
(a) Xảo ngữ: “Ông X là một tay chơi; vậy thì Ông ấy biết gì mà bàn đến đạo đức.”
(b) Xảo ngữ: “Người viết những dòng này ‘chữ nghĩa không đầy lá mít’; ‘biết cóc’ gì mà bàn đến lý luận và ngụy suy.”
Rõ ràng là: Trong cả hai ví dụ này, người ngụy suy đã đem việc đả kích cá nhân làm đối tượng cho việc đi tìm sự thật!

Tóm lại, các sự kiện trên đây cho phép kết luận bằng 3 điểm đáng kể mỗi khi đón nhận một nguồn tin.
1. Đừng vội tin những gì người ta “hót”; [“take it with a grain of salt]
2. “Hót” một cách khách quan tuy có cần nhưng vẫn chưa đủ đảm bảo tính trung thực.
3. “Hót” một cách chủ quan thì dù có đủ bùi tai, nhưng vẫn chưa chắc cần để tránh sai lầm trong cảm nhận, để phân biệt trắng đen – như thấy trẻ ra già khi xem hình minh họa này.

young_old
Đừng vội Đoán dù đã nhìn: Hình Thiếu nữ mỹ miều hay Thiếu phụ đâm chiêu?!

Phó thường dân

Advertisement

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: